Kỹ thuật
4.8K
2

ETA: Sự “bình thường” vĩ đại

Có khi nào bạn tự đặt cho mình câu hỏi: đâu là bộ phận quan trọng nhất trong chiếc đồng hồ? Câu trả lời của bạn và tôi có lẽ cũng tương tự nhau: Máy đồng hồ. Cỗ máy chính là “động cơ” của chiếc đồng hồ, là bộ phận quan trọng nhất và cũng tinh vi nhất. Trong thế giới đồng hồ cơ khí, máy đồng hồ luôn là chủ đề thú vị, mang đến nhiều thảo luận cũng như tranh cãi sôi nổi. Một ví dụ cho thấy sự quan tâm của giới mộ điệu với máy đồng hồ là câu chuyện về Calibre 1887 của TAG Heuer [1] mà tôi đã đăng trên Novatime.

Với người mới hoặc chưa tìm hiểu nhiều về đồng hồ, một suy nghĩ thông thường là mỗi chiếc đồng hồ sẽ được trang bị một cỗ máy riêng biệt. Tuy nhiên, có một thực tế là rất nhiều model đồng hồ của nhiều hãng khác nhau lại được trang bị cùng một loại “động cơ”. Ví dụ như 2 model Hamilton Khaki Navy BeLOWZERO 200m Auto [2] và Tissot Le Locle Automatic [3] cùng sử dụng cỗ máy có tên 2824-2.

Hai model nhìn bề ngoài khác hẳn nhau nhưng được trang bị cùng một cỗ máy.

Cỗ máy 2824-2 còn được dùng cho vô số các model của rất nhiều hãng khác nhau. Theo thống kê không chính thức [4], có khoảng trên 400 model đồng hồ thuộc các thương hiệu lớn sử dụng trực tiếp cỗ máy trên. Thống kê trên không tính đến các model thuộc các thương hiệu ít phổ biến. Trên thực tế, có rất nhiều thương hiệu nhỏ cũng trang bị cỗ máy này [5]. Bên cạnh đó, như phần tiếp theo sẽ chỉ ra, còn có một số lượng lớn các model đồng hồ sử dụng máy được phát triển trên nền của 2824-2 [4, 6].

2824-2 được giới chơi đồng hồ gọi là “workhorse movement“, một “danh hiệu” dùng để chỉ những cỗ máy thiết kế tối giản, dễ sửa chữa, giá thành hợp lý trong khi vẫn đảm bảo hiệu năng, độ tin cậy, độ chính xác ở mức chấp nhận được [7]. Nó đứng đầu danh sách những cỗ máy cơ khí Thụy sĩ được sử dụng nhiều nhất trong ngành công nghiệp đồng hồ [8].

Máy 2824-2. Ảnh: WatchBase.com.

Cỗ máy 2824-2, với sự “phủ sóng” rộng khắp và tính ứng dụng cao như vậy, hiển nhiên là một tượng đài trong kỹ thuật đồng hồ. Một cách tự nhiên sẽ nảy sinh câu hỏi: ai là người làm ra cỗ máy nổi tiếng này? Câu trả lời sẽ dẫn dắt chúng ta đến với một nhà sản xuất mà tên tuổi cùng những chiến tích, những sáng tạo đã đặt dấu ấn đậm nét trong sự phát triển của toàn ngành đồng hồ. Xung quanh họ là những con số ấn tượng về những cỗ máy kinh điển, là sự ảnh hưởng sâu rộng chi phối rất nhiều hãng đồng hồ, và cả những hiểu lầm cũng như sự đánh giá chưa xứng đáng về vai trò và tầm vóc của họ.

ETA – Manufacture chính hiệu

Người đứng sau cỗ máy đình đám 2824-2, cũng như hàng loạt các cỗ máy phổ biến khác trong ngành công nghiệp đồng hồ (ví dụ: 2892.A2, 2836-2, 7750,…) [9] là ETA SA (gọi tắt là ETA) [10], một công ty Thụy sĩ, chuyên thiết kế và sản xuất đồng hồ và máy đồng hồ quartz, cơ tự động, cơ thủ công, ở dạng hoàn thiện (movement) cũng như bán thành phẩm (ébauche) [11]. ETA hiện nằm dưới quyền sở hữu của Swatch Group, tập đoàn số một về đồng hồ toàn cầu.

Trang chủ của ETA tại eta.ch. Ảnh chụp màn hình website.

Về kỹ thuật, ETA có khả năng sản xuất tất cả mọi bộ phận của một chiếc đồng hồ hoàn chỉnh. Chính vì thế, ETA được coi như một manufacture chính hiệu (hoặc “manufacture d’horlogerie” [12], mang nghĩa là nhà sản xuất có thể tự mình làm ra đồng hồ). Máy và linh kiện đồng hồ do ETA sản xuất ra được cung cấp cho các thương hiệu thuộc Swatch Group (với Tissot, Mido, Hamilton, Longines, Omega,…) và cả các thương hiệu thuộc các đối thủ cạnh tranh của Swatch Group [11] như Richemont (với IWC, Baume & Mercier, MontBlanc,…) và LVMH (với TAG Heuer, Bulgari và Zenith).

ETA thiết kế và sản xuất khoảng 200 cỗ máy khác nhau phục vụ cho hầu hết các tính năng cần có của đồng hồ [9]. Trong số các máy của ETA thì 2824-2, 2892.A2Valjoux 7750 là những máy được biết đến nhiều nhất do được sử dụng rộng rãi cũng như có tính hiệu quả cao [11]. Máy của ETA cũng là nền tảng để phát triển các máy phái sinh của nhiều hãng như Omega, TAG Heuer, Hamilton [13-15],…Điều này phần nào cho thấy quy mô và tầm ảnh hưởng của ETA lên ngành sản xuất đồng hồ của Thụy sĩ.

Hamilton H-10, cỗ máy được phát triển dựa trên ETA 2824-2 với vài chỉnh sửa giúp thời gian trữ cót lên đến 80 tiếng.

Bối cảnh lịch sử

Đầu thế kỷ 20, nền công nghiệp đồng hồ Thụy sĩ vẫn hoạt động trên nền tảng tương đối “tự phát” [16]. Các xưởng nhỏ chuyên sản xuất các bộ phận khác nhau của đồng hồ và bán lại cho các công ty lớn hơn lắp ráp chúng thành các bán thành phẩm. Các công ty này lại cung cấp bán thành phẩm cho các nhà sản xuất đồng hồ độc lập để họ có thể cân chỉnh, tùy biến, trang trí,…và chế tạo ra chiếc đồng hồ hoàn chỉnh.

Khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra vào năm 1914, do nhu cầu về đạn dược rất lớn, các xưởng sản xuất ở Thụy sĩ dành máy móc và nhân lực phục vụ quân sự. Khi chiến tranh kết thúc, các xưởng sản xuất này quay trở lại với lĩnh vực truyền thống là chế tạo các bộ phận của đồng hồ. Do tính tự phát, lượng sản phẩm xuất xưởng quá lớn và vượt xa sức tiêu thụ của ngành đồng hồ. Trong tình hình cạnh tranh lẫn nhau như vậy, máy đồng hồ được bán tháo ồ ạt với mức giá ngày càng rẻ cho các nhà sản xuất đồng hồ Thụy sĩ và nước ngoài. Rất nhiều công ty Mỹ đã mua được máy đồng hồ giá rẻ ở thời điểm này và, kết hợp với năng lực sản xuất ở quy mô công nghiệp, họ sản xuất ra những chiếc đồng hồ có giá rẻ hơn hẳn với máy móc tương đương. Đây là đòn chí mạng với nền công nghiệp đồng hồ của Thụy sĩ! Rất nhiều công ty Thụy sĩ lao đao và món nợ của toàn ngành công nghiệp đồng hồ Thụy sĩ phải gánh lên đến 200 triệu franc vào thời điểm đó [16].

Thấy được nguy cơ và nhận định tình trạng cạnh tranh tự phát cần chấm dứt, các ngân hàng Thụy sĩ đã hậu thuẫn thành lập Liên minh Đồng hồ Thụy sĩ (viết tắt theo tiếng Pháp là “FH”) vào năm 1924 quy tụ 3/4 số công ty trong ngành. Vào năm 1926, một Liên minh (Corportare trust) mang tên Ébauches SA được thiết lập bởi 3 nhà sản xuất máy đồng hồ lớn nhất: ASSA, FHF và AM [16]. Liên minh này dựa trên một Thỏa thuận về cơ bản bao gồm: 1) Thống nhất mức giá, 2) Chuẩn hóa thông số kỹ thuật của nhiều bộ phận trong máy đồng hồ để tối ưu hóa sản xuất và giảm giá thành, và 3) Quy định chặt chẽ về việc bán máy đồng hồ cho các công ty nước ngoài. Đến đầu những năm 1930, đã có trên 90% nhà sản xuất máy Thụy sĩ tham gia Liên minh trên. Các công ty lắp ráp và kinh doanh đồng hồ cũng nhanh chóng nhận ra lợi ích và dần gia nhập. Trong một diễn biến khác, năm 1930, Louis Brandt, Omega và Tissot hợp nhất và thành lập ra một công ty có tên SSIH.

Những tưởng mọi sự đã vào guồng êm đẹp, biến cố tiếp theo đã mang đến một thay đổi to lớn. Cuộc Đại suy thoái (Great Depression) có quy mô toàn cầu bắt đầu từ năm 1929 đã khiến toàn ngành đồng hồ Thụy sĩ lao đao và kéo theo đó là 20,000 người thất nghiệp [16]. Liên minh  Ébauches SA nêu trên, dù rất hiệu quả trong việc kiểm soát giá và đảm bảo tính độc quyền, đã không đủ sức mạnh để chèo lái ngành đồng hồ Thụy sĩ nữa. ASUAG, một cơ quan mới với khả năng tổ chức, bao quát, kiểm soát và định hướng cho toàn ngành, đã được thành lập với sự hậu thuẫn về vốn của chính phủ liên bang.

Cuộc Đại Suy thoái bắt đầu từ Mỹ năm 1929 đã lan ra toàn cầu. Rất nhiều người đói, thất nghiệp. Ảnh: Denver Public Library.

Có một công ty là Eterna vẫn “đứng ngoài” các liên minh Ébauches SA, ASUAG nói trên. Được thành lập năm 1856 bởi Joseph Girard và Urs Schild và ban đầu có tên “Dr. Girard & Schild”, Eterna lấy tên mới của mình vào năm 1905. Đến 1929, Eterna đã là một công ty lớn với khoảng 800 nhân viên và sản xuất 2 triệu chi tiết máy đồng hồ mỗi năm [16]. Theodor Schild, con trai của nhà sáng lập Urs Schild, nhận ra rằng Eterna cũng đối mặt với các nguy cơ tương tự các công ty khác trong ngành đồng hồ Thụy sĩ và việc gia nhập liên minh Ébauches SA & ASUAG có thể giúp giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, Ébauches SA chuyên về máy và bán thành phẩm và vì thế, quyết định cuối cùng của Eterna là gia nhập liên minh vào năm 1932 bằng cách tách công ty thành 2 công ty mới: Một là Eterna chuyên sản xuất đồng hồ và một công ty khác chuyên sản xuất máy có tên ETA SA.  ETA đã ra đời như thế, trong bối cảnh xáo trộn thăng trầm của toàn ngành đồng hồ Thụy sĩ.

Cứu tinh sau Khủng hoảng Quartz

Những nỗ lực đúng hướng đã đem lại kết quả tốt. Những năm 1930, 1940 là thời điểm tái cơ cấu và phát triển của toàn ngành với việc nhiều nhà sản xuất máy quan trọng như Unitas và Valjoux nhập vào Ébauches SA [17]. Ngành đồng hồ Thụy sĩ cũng có những bước phát triển vượt bậc. Những năm 1960 chứng kiến những nỗ lực tái thiết công nghiệp đồng hồ sau Thế chiến 2. Các ngân hàng Thụy sĩ hậu thuẫn tích cực cho công cuộc củng cố sức mạnh cho các công ty sản xuất máy và đồng hồ. Ébauches SA sáp nhập rất nhiều công ty nhỏ và trở lên lớn mạnh hơn bao giờ hết, vươn tầm ảnh hướng đến quy mô toàn cầu. Riêng năm 1974, Thụy sĩ xuất khẩu 84 triệu chiếc đồng hồ. Bức tranh dường như chưa bao giờ sáng đẹp hơn thế [17].

Người ta thường nói trời đẹp lắm khi là điềm báo cho bão giông. Ngay trên đỉnh cao của mình, năm 1974, ngành đồng hồ Thụy sĩ lại một lần nữa hứng chịu cơn sốc lớn chưa từng có. Ngược dòng thời gian, cuộc chiến tranh Arab-Israel năm 1973 [18] đã dẫn đến lệnh cấm xuất khẩu dầu từ OPEC với kết quả là sự thiếu nhiên liệu trầm trọng kéo theo suy giảm kinh tế trên quy mô toàn cầu. Sự kiện này được nhắc đến với tên gọi cuộc “Khủng hoảng dầu mỏ 1973-1974” [19-21].

Hệ quả của sự kiện này là sức mua suy giảm gây ảnh hưởng trực tiếp tới doanh số đồng hồ Thụy sĩ, vốn đắt đỏ và khá chậm trong việc điều chỉnh sản phẩm [17]. Cùng khoảng thời gian đó, người Nhật đưa ra thị trường lượng lớn đồng hồ quartz với thiết kế đơn giản, giá thành cực rẻ và đẩy tình cảnh của các nhà sản xuất đồng hồ Thụy sĩ trở nên bi đát hơn nữa. Trong vòng gần 10 năm, từ 1974 đến 1983, lượng xuất khẩu hàng năm của đồng hồ và máy của Thụy sĩ từ 84 triệu đơn vị/năm rơi xuống còn hơn 30 triệu đơn vị/năm [17]. Sự kiện này được nhớ đến với tên gọi cuộc “Khủng hoảng Quartz” [22].

Đồng hồ Quartz thương phẩm giá rẻ được Seiko giới thiệu lần đầu năm 1969. Các đồng hồ tương tự đã gây ra cuộc Khủng hoảng Quartz vài năm sau đó. Ảnh: koranyogya.com.

Rất nhiều nhà sản xuất đồng hồ Thụy sĩ đã “sập tiệm” trong cuộc Khủng hoảng Quartz này [22]. Những công ty còn lại buộc phải trải qua một cuộc chuyển mình nữa để tồn tại. Trong nỗ lực sinh tồn ấy, sáp nhập và tái cơ cấu cũng như thay đổi chiến lược phát triển sản phẩm là việc cấp thiết cần làm. ETA sáp nhập với Schild, Ébauches SA giảm số lượng máy từ 136 chủng loại xuống còn 40 loại và ASUAG gom tất cả các đơn vị sản xuất máy nhỏ lẻ của mình vào hoạt động dưới sự “che chở” của ETA [17]. Và đến thời điểm đầu những năm 1980, ETA thể hiện vai trò rõ nét trong việc cứu giúp nền sản xuất đồng hồ Thụy sĩ qua cơn nguy khốn bằng cách lãnh nhận nhiệm vụ sản xuất toàn bộ máy đồng hồ cho một cái tên mới: Swatch Group [23], cái tên mà ngày nay đã trở thành “ông kẹ” trong ngành.

Được vận động bởi Nicolas Hayek, một doanh nhân gốc Lebanon, Swatch Group là kết quả sáp nhập SSIH và ASUAG cùng với triết lý mới về sản xuất đồng hồ: phát triển các đồng hồ đơn giản về cấu tạo, có thể sản xuất hàng loạt, mẫu mã đa dạng và giá thành phù hợp túi tiền [24]. Cùng với danh tiếng của chất lượng Thụy sĩ, đồng hồ của Swatch đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường với doanh số tăng phi mã. Đây là tiền đề để ngành đồng hồ Thụy sĩ hồi sinh.

Người lãnh đạo nhóm dự án làm ra máy cho mẫu đồng hồ Swatch đầu tiên, Ernst Thomke, chính là CEO của ETA sau đó [24]. Ông mang theo cách tiếp cận đã thành công với Swatch vào chiến lược phát triển sản phẩm cho ETA. Triết lý mới với tiêu chí tối giản hóa và chuẩn hóa máy móc, sản xuất hàng loạt với số lượng lớn và giá thành hạ là cốt lõi dẫn đến thành công của đồng hồ Thụy sĩ trên quy mô toàn cầu sau thời điểm này. Và, ở khâu chế tạo máy móc, ETA chính là hạt nhân của cuộc cách mạng đó.

ETA đã trở thành “cứu tinh” của ngành sản xuất đồng hồ Thụy sĩ theo cách như thế.

Câu chuyện về cuộc Khủng hoảng Quartz cũng như lịch sử của Swatch Group có rất nhiều điều thú vị. Chúng tôi sẽ viết chi tiết về chủ đề này trong một bài viết riêng biệt. Bạn đọc quan tâm có thể tìm đến tài liệu số [25-28] ở phần Tham khảo ở cuối bài.

Mẫu đồng hồ thay đổi lịch sử từ Swatch. Ảnh: stay-tuned-to-sw.de.

Hayek và Thomke. Ảnh: Worn and Wound.

Nhà kiến thiết vĩ đại

Ngày nay, là một phần của Swatch Group, ETA cung cấp máy đồng hồ cho các công ty bên trong cũng như bên ngoài tập đoàn. Như đã nêu ở phần đầu bài, một lượng lớn máy đồng hồ ETA được sử dụng trực tiếp trong hàng trăm model đồng hồ của nhiều thương hiệu khác nhau. ETA chính là nhà cung cấp (vendor) có tầm ảnh hưởng sâu và rộng. Vai trò của họ giống như Intel trong ngành công nghệ. Rất nhiều thương hiệu đồng hồ không thể tự sản xuất máy và hiển nhiên họ sẽ không thể làm ra đồng hồ chất lượng nếu không có nguồn cung cấp ổn định từ các nhà sản xuất như ETA. Các cỗ máy sẽ được trang trí lại một chút như thêm hoa văn trang trí cho quả văng, in tên thương hiệu đồng hồ. Một số hãng còn “đặt lại tên” cho cỗ máy để gây ấn tượng rằng đó là máy do chính họ sản xuất chứ không phải máy được mua từ bên thứ ba như ETA [29].

Máy ETA dùng cho một model đồng hồ của thương hiệu khác. Có thể thấy mã của cỗ máy và logo ETA. Ảnh: A Blog To Watch.

Mỗi loại máy từ ETA cung cấp cho các thương hiệu đồng hồ sẽ có một hoặc nhiều cấp chất lượng (grade) khác nhau trong số 4 cấp: Standard (Tiêu chuẩn); Elaborated (Nâng cấp); Top (Đỉnh cao) và Chronometer (đạt chuẩn chính xác cao nhất). Các cấp chất lượng này khác nhau về điều kiện hiệu chỉnh máy, độ chính xác và sai lệch tối đa cho phép trong ngày. Từ Standard đến Elaborated, Top và Chronometer, các chi tiết trong máy cũng được trang trí với mức độ trau chuốt tăng dần.

Vài cỗ máy nổi tiếng nhất của ETA:

  • 2824-2: Cỗ máy phổ biến nhất, thuộc loại máy cơ tự động với 25 chân kính, bao gồm chức năng hiển thị lịch ngày bên cạnh các hiển thị giờ, phút, giây. Cỗ máy này được dùng nhiều trong các đồng hồ từ giá thấp đến cao cấp.
  • 2892.A2: Máy cơ tự động với 21 chân kính, chức năng hiển thị ngày, giờ, tháng, thứ tương tự như 2824-2 nhưng máy mỏng hơn và có chất lượng bình quân ở mức cao hơn 2824-2. Cỗ máy này thường được dùng cho các đồng hồ cao cấp, nhất là đồng hồ kiểu mỏng.

Máy 2892.A2. Ảnh: perrinwatchparts.com.

  • 7750: Là máy cơ automatic có chức năng bấm giờ (chronograph) với 25 chân kính, hiển thị ngày, giờ, phút, giây và các bản ghi bấm giờ. Đây là cỗ máy được dùng rộng rãi nhất cho các đồng hồ chronograph.

Máy 7750 của ETA, còn gọi là Valjoux 7750. Ảnh: Star Time Supply.

Ngoài việc cung cấp các cỗ máy tiêu chuẩn cho các thương hiệu đồng hồ, với năng lực thiết kế, sản xuất và bề dày lịch sử của mình, ETA còn cung cấp license để các hãng khác có thể sử dụng thiết kế gốc các cỗ máy ETA cho mục đích tùy biến, chỉnh sửa,…để làm ra các cỗ máy “riêng” của họ. Rất nhiều hãng, từ phân khúc phổ thông đến cao cấp và xa xỉ, đã lựa chọn sử dụng máy ETA làm xuất phát điểm để chế ra các cỗ máy độc quyền của mình. Điển hình hay gặp là Tissot với Powematic 80 trên nền tảng 2824-2; Hamilton với H-10; H-21; H-31; H-20S; Mido với Caliber 80; Longines với L619.2; Omega với Caliber 1120; TAG Heuer với Calibre 5, Calibre 16,…và vô vàn các ví dụ khác. Ưu điểm chính của việc sử dụng máy ETA là chất lượng tốt, độ ổn định đã được kiểm chứng, giá thành hợp lý và quan trọng nhất là các hãng có thể rút ngắn quá trình nghiên cứu và phát triển, nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường.

Máy H-21 của Hamilton được phát triển trên nền 7750 của ETA với mục tiêu tăng độ trữ cót lên 60 tiếng. Ảnh: Watchbase/Hamilton.

Calibre 5 của TAG Heuer phát triển trên nền 2824-2 của ETA. Ảnh: Watchbase/TAG Heuer.

Calibre 360 của TAG Heuer, cỗ máy được tạo ra bằng cách gắn một module bấm giờ lên trên nền máy 2892.A2. Ảnh: Calibre11.

Dù không phải là máy “in-house” đúng nghĩa và bị coi là không mấy hấp dẫn trong mắt giới sưu tầm đồng hồ, nhưng chất lượng của những cỗ máy trên nền ETA (ETA based) là không phải bàn cãi. Chúng thừa hưởng nền tảng chất lượng ổn định từ ETA và được cải tiến thêm nhiều tính năng hữu ích tùy theo từng hãng.

Với độ phủ sóng rộng khắp trong ngành công nghiệp đồng hồ thông qua việc cung cấp máy đồng hồ cũng như cấp phép sử dụng thiết kế các cỗ máy tiêu chuẩn để các hãng khác phát triển máy riêng, ETA cho thấy tầm ảnh hưởng của họ lớn đến thế nào. Cả ngành đồng hồ Thụy sĩ được hưởng lợi, không chỉ vì ETA giúp họ chuẩn hóa thiết kế, tăng năng suất, giảm giá thành mà còn vì ETA đã cho họ những chuẩn mực trong thiết kế và sản xuất, những điều đóng vai trò như nền tảng vững chắc để từ đó có thể đẩy nhanh quá trình nghiên cứu, sáng tạo phục vụ cho phát triển. Riêng với các máy “ETA based”, các hãng đồng hồ Thụy sĩ tìm được giải pháp tuyệt vời để cân bằng giữa tăng năng suất, giảm giá thành và duy trì các công cụ marketing giúp bán hàng tốt hơn.

ETA đóng vai trò nhà kiến thiết, xác lập nên bức tranh sản xuất công nghiệp ở quy mô toàn cầu cho đồng hồ Thụy sĩ theo cách như thế.

Vị thế nào cho ETA?

Nhiều người thường không hào hứng lắm khi nghe đến ETA mà nguyên nhân chủ yếu đến từ việc chiếc đồng hồ trang bị máy ETA lại không phải do ETA sản xuất. Nói cách khác, trong trường hợp này, máy không phải “in-house”. Tuy nhiên, cần phải nhận định một cách khách quan rằng máy in-house cũng có rất nhiều mức chất lượng khác nhau. Nhiều máy in-house mà tôi đã từng đeo thử có chất lượng khá làng nhàng, độ ổn định thấp, hay hỏng vặt và về tổng thể thua xa máy của ETA cùng tầm tiền. Tất nhiên, những máy in-house hàng đầu đến từ những thương hiệu như Rolex, Patek Philippe, Breguet thì chất lượng cũng như tính thẩm mỹ vượt trội hơn hẳn. Nhưng hãy xem mức giá. Để sở hữu những chiếc đồng hồ trang bị các máy inhouse chất lượng như thế, số tiền phải bỏ ra sẽ gấp khoảng 5-10 lần một chiếc đồng hồ với máy ETA. Sự so sánh về độ “chất” lúc nào trở nên rất khập khiễng.

Cái hay cũng như cái tài của ETA là họ có thể làm ra được số lượng cực lớn các cỗ máy, với nhiều cấu hình khác nhau một cách đều đặn, liên tục, nhanh chóng với độ đồng đều chất lượng đáng ngạc nhiên. Độ chính xác, độ tin cậy, độ bền và cấp độ thẩm mỹ của máy ETA cũng là cực tốt so với giá thành. Tôi tự hỏi, ở tầm giá tương tự như nhau, liệu có cỗ máy in-house nào cạnh tranh được với máy ETA trên tổng thể? Có lẽ là không! Nếu ai đó nói máy ETA hơi nhàm chán chỉ vì ít có họa tiết trang trí đẹp thì có lẽ với các máy không lộ đáy, máy ETA hay in-house không còn quan trọng nữa.

Cá nhân tôi thì cho rằng người ta hay “chê” máy ETA có lẽ bởi vì ETA có mặt ở khắp nơi chứ không phải vì các yếu tố liên quan đến sản phẩm. ETA hoàn toàn dư thừa khả năng kỹ thuật và năng lực sản xuất để nghiên cứu và tạo ra các cỗ máy phức tạp không thua kém bất kỳ hãng nào trên thị trường. Nhưng họ không làm như vậy vì đó không phải là mục tiêu và nhiệm vụ của họ. Họ không theo đuổi việc chạy đua hay phô trương công nghệ vốn dành cho những loạt sản xuất rất nhỏ. Mục tiêu và nhiệm vụ của họ là làm những sản phẩm nhiều khách hàng cần với số lượng lớn, chất lượng tốt và ổn định, ở mức giá tốt nhất có thể. Nhiệm vụ này không hề đơn giản, nhất là khi đặt trong tình hình cạnh tranh hiện nay với nhiều quốc gia đang nổi có năng lực sản xuất vượt trội. ETA sẽ không thể trụ được và phát triển như ngày hôm nay nếu họ không liên tục đổi mới, sáng tạo và thiết lập các chuẩn mực mới cho máy đồng hồ. Đó chính là sự vĩ đại trong thầm lặng của ETA – xương sống của toàn bộ ngành công nghiệp đồng hồ Thụy sĩ.

Một ngày gần đây, ETA có thể sẽ “được quyền” không bán máy cho các thương hiệu đồng hồ ngoài Swatch Group [30]. Khi ấy có lẽ người ta sẽ thấy vai trò của ETA đã lớn như thế nào.

Lời kết

ETA – một công ty được thai nghén đầu tiên vào giữa thế kỷ 19, chính thức ra đời những năm 1930 và trở thành một phần của Swatch Group hùng mạnh hôm nay – là chứng nhân lịch sử của bao cuộc thăng trầm sinh tử của toàn bộ ngành sản xuất đồng hồ Thụy sĩ. Không chỉ chứng kiến những đổi thay, ETA thực sự đã đóng góp công sức rất lớn với sự phục hưng vị thế của Thụy sĩ trong ngành công nghiệp đồng hồ. Với bề dày nghiên cứu, phát triển và năng lực sản xuất cộng với kinh nghiệm hàng trăm năm và danh mục sản phẩm (portfolio) đa dạng, ETA là một ông lớn đúng nghĩa trong ngành đồng hồ. Không một công ty nào có thể làm ra sản phẩm máy đồng hồ đa dạng, với số lượng lớn, chất lượng đồng đều, ổn định và giá thành hợp lý như họ.

Trong bối cảnh hiện tại, khi công nghệ lên ngôi với sự xuất hiện của smart watch, ETA có lẽ lại một lần nữa gánh vác trọng trách tìm ra lối đi riêng đảm bảo sự phát triển trong khi vẫn bảo tồn những giá trị cốt lõi của đồng hồ Thụy sĩ. Chúng ta chưa có cơ hội được thấy chi tiết họ đang làm gì, nhưng chắc hẳn phải có rất nhiều dự án nghiên cứu phát triển (R&D) đang được triển khai. Chúng ta sẽ được biết vào thời điểm phù hợp. Đó là cách ETA cũng như Swatch Group làm việc từ trước đến nay: Thầm lặng nhưng luôn có giải pháp đúng lúc.

Nova @ Novatime Lab.

Bài viết được thực hiện trong chương trình report kỹ thuật của Novatime Lab (Watch Research). Nó có thể được cập nhật tiếp trong tương lai để chất lượng ngày một tốt hơn nữa.

Tham khảo

[1] Carrera Cal.1887: Đột phá, tranh cãi, nuối tiếc và huyền thoại, Nova @ Novatime, URL: https://www.novatime.vn/2017/08/carrera-1887-dot-pha-tranh-cai-nuoi-tiec-va-huyen-thoai

[2] Hamilton H78555533 BeLOWZERO 200m Auto, WatchBase, URL: http://watchbase.com/hamilton/khaki-navy/h78555533

[3] Tissot T41142333 Le Locle Automatic, WatchBase, URL: http://watchbase.com/tissot/t-classic/t41142333

[4] ETA caliber 2824-2, WatchBase, URL: http://watchbase.com/eta/caliber/2824-2

[5] Squale 50 Atmos Ref 1521 Review, Ilya Ryvin @ WornandWound, URL: http://wornandwound.com/review/squale-50-atmos-ref-1521-review

[6] ETA caliber 2824-2, Caliber Corner, URL: http://calibercorner.com/eta-caliber-2824-2

[7] What is a “workhorse movement”?, Caliber Corner, URL: http://calibercorner.com/what-is-a-workhorse-movement

[8] Is eta 2824-2 the most common movement used, watchknight @ Watchuseek, URL: http://forums.watchuseek.com/f6/eta-2824-2-most-common-movement-used-409506.html

[9] ETA calibers, WatchBase, URL: http://watchbase.com/eta

[10] Manufacture Horlogère Suisse, ETA SA, URL: http://www.eta.ch/en

[11] ETA SA, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/ETA_SA

[12] Manufacture d’horlogerie, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Manufacture_d%27horlogerie

[13] Omega 1120, Watch Wiki, URL: https://www.watch-wiki.net/index.php?title=Omega_1120

[14] TAG Heuer Calibre 5, Caliber Corner, URL: http://calibercorner.com/tag-heuer-caliber-5

[15] Hamilton caliber H-10, WatchBase, URL: http://watchbase.com/hamilton/caliber/h-10

[16] A Brief History Of ETA: THE Swiss Watch Movement Maker, David Brendan, URL: http://www.ablogtowatch.com/a-brief-history-of-eta

[17] The Little Engine That Could – and Did: A History of ETA, Ed Estlow, URL: http://wornandwound.com/the-little-engine-that-could-and-did-a-history-of-eta

[18] Yom Kippur War, Encyclopædia Britannica, URL: https://www.britannica.com/event/Yom-Kippur-War 

[19] 1974: “Long queues and fights at garages”, BBC UK Witness, URL: http://news.bbc.co.uk/onthisday/hi/witness/december/15/newsid_4065000/4065969.stm

[20] Oil Shock of 1973–74, Michael Corbett, URL: https://www.federalreservehistory.org/essays/oil_shock_of_1973_74

[21] Background: What caused the 1970s oil price shock?, Terry Macalister, URL: https://www.theguardian.com/environment/2011/mar/03/1970s-oil-price-shock

[22] Quartz Crisis, Wikipedia, URL:https://en.wikipedia.org/wiki/Quartz_crisis

[23] From “DNR” to Dominant World Power: A History of the Swatch Group, Ed Estlow, URL: http://wornandwound.com/from-do-not-resuscitate-to-dominant-world-power-a-history-of-the-swatch-group

[24] The Swatch Group, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/The_Swatch_Group

[25] The Quartz Crisis – an event that could have wiped out the mechanical watch industry, Hora Halus, URL: https://horahalus.com/2016/05/22/watch-lore-the-quartz-crisis

[26] The Quartz Crisis Explained, Smith Bradley Ltd., URL: https://www.smithbradleyltd.com/blogs/blog/7971071-the-quartz-crisis-explained

[27] Who will replace the watchmaking greats of the quartz crisis?, Su Jia Xian, URL: http://thepeakmagazine.com.sg/fashion-watches/will-replace-watchmaking-greats-quartz-crisis

[28] The Quartz Watch Revolution, Calibre11, URL: https://www.calibre11.com/heuer-quartz-revolution

[29] Truth In Watch Movement Advertising And Defining Watch Caliber Origins Once And For All, Ariel Adams, URL: http://www.ablogtowatch.com/truth-watch-movement-advertising-defining-watch-caliber-origins

[30] Cartel Investigation (under “ETA SA”), Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/ETA_SA#Cartel_investigation

Author: Tuan Tran (a.k.a Nova)

Dr. Tuan Tran (a.k.a Nova) tốt nghiệp các ngành Luyện kim, Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp từ các trường ĐH Bách Khoa Hà Nội (Việt Nam) và ĐH Dongguk (Hàn Quốc). Tác giả hiện đang làm Nghiên cứu và Kinh doanh tại Hà Nội và Seoul.

Tác giả từng làm việc trong các lĩnh vực: Cơ khí, Công nghiệp, Thiết kế, Phát triển sản phẩm.

Mảng đề tài nghiên cứu của tác giả là Thiết kế, Phát triển sản phẩm và Dịch vụ chuyên sâu cho các sản phẩm cao cấp và dịch vụ xã hội.

Với đam mê đặc biệt dành cho Lịch sử, Kỹ thuật và Đồng hồ, tác giả thành lập Novatime với mong muốn Novatime trở thành nơi tin cậy để đọc và tìm hiểu về Đồng hồ một cách toàn diện: Vật liệu, Cơ khí, Thiết kế, Cảm xúc, Lịch sử và những Con người.

Novatime cam kết tôn vinh những Giá trị của những chiếc Đồng hồ – những sáng tạo kiệt xuất của Nhân loại.

2 bình luận

1 bình luận

  1. Pingback: Quartz: Từ kẻ gây sóng gió đến vai trò định hình công nghiệp đồng hồ hiện đại – Dr. Watch

  2. dzung nguyen

    26 Tháng Mười Một, 2018 at 11:16 sáng

    kiến thức của bạn về đồng hồ rất sâu rộng và bổ ích cho mọi người. tuy nhiên cần sửa lỗi chính tả: “trở nên” thay vì “trở lên”, và từ “giá thành” rất cần được sử dụng đúng chỗ: bạn có thể nói về sự cải tiến công nghệ để giảm giá thành, nhưng khi nói “giá thành hợp lý” hay “giá thành vừa túi tiền” thì bạn hiểu sai nghĩa nên dùng từ không phù hợp, không chỉ vì bạn không thể nào biết chắc giá thành của sản phẩm là bao nhiêu mà còn vì giá thành không có lý do gì phải vừa túi tiền.

Viết comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Được xem nhiều

Lên đầu trang