Đồng hồ
4.4K

Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary: Tri ân những bước chân đến Mặt trăng

Ước mơ khám phá Mặt trăng

Mặt trăng, người bạn đồng hành cùng Trái đất từ hơn 4 tỷ năm qua [1], đã là nguồn cảm hứng trong thi ca, nghệ thuật và là đối tượng say mê, khám phá trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Chu kỳ trăng tròn – trăng khuyết là cơ sở hình thành nên Âm lịch của phương Đông [2] và cho nền sản xuất nông nghiệp thời Cổ đại [3], Trung đại [4] và cả ngày nay [5]. Với sự gần gũi và ảnh hưởng dễ nhận thấy lên Trái đất và cuộc sống của các sinh vật sống trên đó, Mặt trăng sớm trở thành đề tài tìm hiểu, nghiên cứu từ thủa sơ khai của nền văn minh [1]. Các cứ liệu ghi nhận, từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, đã có những quan sát đầu tiên về chu kỳ của Mặt trăng được thực hiện bởi các nhà thiên văn Babylone và Ấn Độ cổ đại. Nghiên cứu về Mặt trăng tiến triển đến độ, khoảng thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, người Trung Quốc đã biết ghi chép và đưa ra các hướng dẫn dự đoán Nhật – Nguyệt thực. Cũng trong khoảng thời gian đó, Anaxagoras, nhà thiên văn người Hy Lạp, đã đưa ra lập luận đáng chú ý rằng Mặt trời và Mặt trăng là hai khối đá hình cầu khổng lồ và ánh sáng của Mặt trăng có được là do nó phản chiếu ánh sáng từ Mặt trời. Đây là luận điểm rất gần với hiểu biết của khoa học hiện đại. Điều này thể hiện sự hiểu biết tương đối sâu của các dân Cổ đại về người hàng xóm của chúng ta.

Suốt những năm sau đó, cho đến tận thời Trung đại, người ta giữ niềm tin phổ biến rằng Mặt trăng có hình cầu hoàn hảo, tức là “nhẵn bóng”. Galileo Galilei, nhà khoa học người Ý, đã đính chính việc này. Năm 1609, bằng cách sử dụng kính viễn vọng, Galilei đã vẽ trong sách “Siderius Nuncius” [6] bức hình “chính xác” đầu tiên về Mặt trăng trong đó bề mặt của nó gồm nhiều mỏm núi và các “miệng núi lửa” [1][7][8]. Các “miệng núi lửa” này sau đó được Richard Proctor xác minh, vào những năm 1870, là các hố hình thành do va chạm với các thiên thạch [1][9].

Mặt trăng được vẽ mô tả trong sách của Galilei năm 1609. Ảnh: http://brunelleschi.imss.fi.it.

Tất cả những nghiên cứu của con người về Mặt trăng chỉ dừng lại ở “quan sát” cho đến giữa thế kỷ XX. Khát khao của nhân loại là “chạm” đến chị Hằng bị giới hạn bởi…trọng lực. Để thể đến Mặt trăng, trước hết phải “thoát” được khỏi Trái đất. Theo cơ học Newton, một vật thể muốn thoát ra khỏi trường hấp dẫn của Trái đất, cần đạt vận tốc thoát (escape velocity) khoảng 11.2km/giây (xem chi tiết tính toán ở [10][11]). Cho đến trước thế kỷ XX, chưa có loại thiết bị bay nào đủ nhanh để đưa các vật thể thoát ra được trường hấp dẫn của Trái đất đặng tiếp cận và khám phá các thiên thể trong Vũ trụ.

Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của ngành hàng không đầu thế kỷ XX và đặc biệt sau 2 cuộc Chiến tranh Thế giới đã mang đến cơ hội to lớn để hiện thực hoá ước mơ bay vào vũ trụ của con người [12][13][14][15]. Cuộc Chiến tranh Lạnh [16][17], khơi nguồn từ cuối những năm 1940 và bắt đầu từ đầu những năm 1950, đã dẫn đến cuộc chạy đua về Không gian (Space race) và tạo cú hích mạnh mẽ cho sự phát triển của các dự án thăm dò, thám hiểm trụ [18][19]. Năm 1959, người Nga (Liên Xô), sau một số thử nghiệm thất bại, đã thành công với việc đưa tàu thoát khỏi Trái đất tiếp cận gần với Mặt trăng (Luna 1); đáp xuống (Luna 2) và chụp ảnh bề mặt của nó (Luna 3) [1]. Tuy nhiên, phải đến Luna 9, các thiết bị của Nga mới có thể hạ cánh an toàn trên bề mặt của Mặt trăng.  Các dự án sau đó cho vệ tinh quay quanh Mặt trăng và thu thập các mẫu đất đá gửi về Trái đất phục vụ nghiên cứu. Các nhiệm vụ trong thời kỳ này của người Nga được thực hiện bởi các thiết bị không người lái.

Luna 2 của người Nga – Thiết bị đầu tiên của con người đáp xuống Mặt trăng. Ảnh: Wikipedia.

Người Mỹ, với tư cách là “đối trọng” chính của Liên Xô, dĩ nhiên không thể ngồi yên trong cuộc đua này. Từ cuối những năm 1950, trong cao điểm của Chiến tranh Lạnh, Quân đội Mỹ (US Army) đã cho tiến hành Project Horizon [20] bao gồm các nghiên cứu khả thi đề xuất việc xây dựng đồn luỹ trên Mặt trăng phục vụ nghiên cứu khoa học cũng như các mục đích quân sự, bao gồm việc thử nghiệm vũ khí hạt nhân.

Hình minh hoạ căn cứ trên Mặt trăng theo phác thảo từ Project Horizon của Quân đội Mỹ. Ảnh: ancient-code.com.

Không quân Mỹ (US Air Force), khi đó đang cạnh tranh với Quân đội để giành vai trò dẫn đầu trong các chương trình Không gian, cũng phát triển dự án tương tự có tên Lunex [21]. Tuy nhiên, cả 2 dự án này sau đó đã được chuyển giao cho một cơ quan dân sự là…NASA. Lịch sử đã chứng minh đó là quyết định đúng đắn. NASA đã thực hiện những chuyến bay và thám hiểm dẫn đến cột mốc quan trọng trong lịch sử nhân loại: đặt dấu chân con người lên Mặt trăng, ghi dấu son sáng chói trong sứ mệnh tìm hiểu và chinh phục người hàng xóm bí ẩn này.

Chương trình Apollo

Trước sức ép từ dư luận trong nước sau những thành công vang dội của người Nga, NASA [22], một cơ quan dân sự chuyên nghiên cứu Hàng Không vũ trụ được thành lập năm 1958, đã được giao nhiệm vụ thực hiện dự án triển khai các chuyến bay có người lái lên Mặt trăng trong thập kỷ 60 [1]. Một loạt các dự án được triển khai để chuẩn bị cho nhiệm vụ “đổ bộ” này. Chương trình Ranger [23] chụp ảnh cận cảnh, chương trình Lunar Orbiter [24] dựng bản đồ toàn bộ và chương trình Surveyor [25] đáp tàu không gian đầu tiên xuống Mặt trăng. Cùng lúc đó, một chương trình khác cũng được triển khai song song để hiện thực hoá tham vọng “đổ bộ”: Chương trình Apollo [26][27].

Logo của chương trình Apollo với hình Mặt trăng, Trái đất và các quỹ đạo. Ảnh: NASA.

Chương trình Apollo, kéo dài từ 1961-1972 [26][27] tiêu tốn khoảng hơn 25 tỷ USD (theo tỷ giá năm 1973), bao gồm một series các nhiệm vụ bay có và không có người lái trên các quỹ đạo quanh Trái đất, Mặt trăng cũng như đổ bộ lên hành tinh này [26]. Các chuyến bay thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau như kiểm tra, hiệu chỉnh, thử nghiệm,…hoặc đổ bộ. Sứ mệnh của Chương trình Apollo tập trung cho đích đến là Mặt trăng. Chuyến bay đầu tiên có người lái là Apollo 7 được thực hiện vào năm 1968 và kéo dài trong 4 ngày [27]. Chuyến bay đầu tiên đưa người lên Mặt trăng là Apollo 11, xuất phát từ Trái đất ngày 17 tháng 6, hạ cánh trên Mặt trăng ngày 20 tháng 6 và quay về Trái đất an toàn ngày 24 tháng 6 trong cùng năm 1969. Neil Armstrong đã trở nên nổi tiếng vì là người đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng từ chuyến bay này.

Bước chân đầu tiên trên Mặt trăng và câu nói nổi tiếng của Neil Armstrong. Ảnh: chelsey.co.nz.

Các chuyến bay được đầu tư rất lớn và thu hút sự dõi theo trên phạm vi toàn cầu. Đã có khoảng 600 triệu người theo dõi các hình ảnh trực tiếp từ cuộc đổ bộ của tàu Apollo 11 [28]. Các chuyến bay cũng mang về nhiều thông tin và mẫu vật có giá trị về địa hình, địa chất và các điều kiện khác trên Mặt trăng. Tuy vậy, không phải nhiệm vụ nào trong chương trình Apollo cũng thành công. Apollo 13 đã buộc phải quay trở lại Trái đất và huỷ mục tiêu đổ bộ Mặt trăng vì phát sinh lỗi trong quá trình vận hành. Đau thương hơn, toàn bộ phi hành đoàn 3 người của tàu Apollo 1 đã bị thiêu cháy khi thử nghiệm tàu trước chuyến bay vào năm 1967 [29]. Sự hy sinh lớn lao đó cho thấy khát khao khám phá và chinh phục Mặt trăng thôi thúc đến thế nào.

Phi hành đoàn đã hy sinh trong thảm kịch của tàu Apollo 1. Ảnh: NASA.

Mối lương duyên của Apollo và Speedmaster

Với những phi hành gia được chọn tham gia các nhiệm vụ trong chương trình Apollo, mỗi trang bị đều được lựa chọn và cân nhắc cẩn thận vì nó có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của họ và do đó, ảnh hưởng đến sự thành bại của cả chuyến bay. Một trong những trang bị quan trọng của phi hành gia là đồng hồ. Vậy NASA đã lựa chọn đồng hồ cho các phi hành gia trong chương trình Apollo như thế nào?

Để lựa chọn đồng hồ trang bị cho các phi hành gia, NASA đã tổ chức một cuộc thi giữa các đồng hồ bấm giờ của một số hãng như: Breitling, Rolex, Omega,…và một số nhà sản xuất khác, như Hamilton chẳng hạn [30]. Hãng này đã gửi dự thầu một chiếc đồng hồ bỏ túi và đã bị loại từ “vòng gửi xe”. Sau khi sàng lọc, có 3 ứng viên được xem xét: Rolex, Longines – Wittnauer và Omega. Các đồng hồ “dự thi” phải trải qua thử nghiệm hoạt động trong các điều kiện khắc nghiệt [30]:

  • Chịu nhiệt độ cao: 48 tiếng chạy dưới nhiệt độ 71 độ C, sau đó là 30 phút dưới nhiệt độ 93 độ C
  • Chịu nhiệt độ thấp: 4 tiếng ở nhiệt độ -18 độ C
  • Chịu thay đổi nhiệt độ trong điều kiện gần chân không: 15 lần lặp lại việc tăng nhiệt độ lên 71 độ C, giữ 45 phút; giảm nhiệt độ xuống -18 độ C, giữ 45 phút (dưới áp suất rất thấp ~ 0,000001atm)
  • Chịu ẩm: Hoạt động 250 giờ trong dải nhiệt độ từ 20 độ C – 71 độ C với độ ẩm tương đối là 95%
  • Hoạt động trong môi trường oxy: 100% khí oxy ở áp suất 0.35 atm và nhiệt độ 71 độ C trong 48 giờ
  • Chống sốc: Chịu 6 lần sốc với khối lượng 40g trong 0.011s từ các hướng khác nhau
  • Hoạt động với gia tốc tuyến tính: từ 1 đến 7.25g trong 333s
  • Chịu áp suất thấp: Hoạt động 90 phút dưới áp suất 0.000001atm ở 71 độ C, sau đó 30 phút ở nhiệt độc 93 độ C
  • Chịu áp suất cao: Hoạt động 60 phút dưới áp suất 1.6atm
  • Hoạt động khi dao động: Hoạt động dưới 3 chu kỳ dao động, mỗi chu kỳ từ 5 đến 2000Hz với xung lực nhỏ nhất là 8.8g
  • Chịu ồn: Hoạt động 30 phút ở mức âm thanh 130dB từ 40 đến 10000Hz

Kết quả cho thấy Omega Speedmaster là đồng hồ duy nhất “sống sót” mà vẫn hoạt động ổn định sau thử nghiệm. Và đồng hồ Speedmaster đã được chọn trang bị cho các phi hành gia chương trình Apollo, mở đầu cho huyền thoại về “Moonwatch” sau này. Kết quả lựa chọn được công bố vào năm 1965. Omega Speedmaster, dòng đồng hồ bấm giờ thể thao từ năm 1957 vốn ban đầu được thiết kế cho các cuộc đua thể thao, đã đi vào lịch sử ngành Hàng không Vũ trụ và gắn với Mặt trăng theo cách như vậy. Có một điểm thú vị là tất cả các đồng hồ dự thi cũng như được chọn (năm 1965) đều thuộc kiểu đồng hồ cơ lên cót tay. Lý do là đồng hồ bấm giờ cơ tự động và quartz chưa ra đời ở thời điểm đó.

Máy Cal. 321 lên cót tay trang bị trong các đồng hồ Omega Speedmaster trước 1968/1969. Ảnh: Wikipedia.

Omega luôn lấy làm hãnh diện vinh dự được lựa chọn này và thực tế cho thấy, những chiếc Omega Speedmaster Moonwatch chưa khi nào làm các phi hành gia và giới mộ điệu thất vọng. Cho đến tận ngày nay, Speedmaster vẫn đồng hồ duy nhất được NASA cấp phép sử dụng cho các công tác bên ngoài tàu vũ trụ ở trong không gian (EVA – Extravehicular Activity) [30].

Chiếc Speedmaster ref. 145.012 dùng cho phi hành gia chương trình Apollo vào năm 1967, sau này được gọi “Moonwatch”. Ảnh: Wikipedia.

Moonwatch là đồng hồ đầu tiên được đeo trên Mặt trăng với sự đổ bộ của phi hành đoàn tàu Apollo 11. Nó được đeo trên tay của Buzz Aldrin, 1 trong 3 phi hành gia. Chiếc đồng hồ lịch sử này (ref. ST105.012 [30]) được Aldrin gửi tặng Viện Smithsonian nhưng đã bị thất lạc trong khi vận chuyển. Các đồng hồ Moonwatch sau đó được thiết kế với dòng chữ đầy tự hào “The First Watch Worn on the Moon” (Đồng hồ đầu tiên được đeo trên Mặt trăng) khắc ở đáy [30].

Phi hành gia Buzz Aldrin đeo một chiếc Speedmaster trên cổ tay phải khi hạ cánh xuống Mặt trăng. Ảnh: Wikipedia.

Dòng chữ đầy tự hào trên đáy của những chiếc Moonwatch sau cuộc đổ bộ của Apollo 11. Ảnh: dreamchrono.com.

Speedmaster còn có công trạng lớn trong một nhiệm vụ khác. Vào năm 1970, tàu Apollo 13 bị sự cố nghiêm trọng và không thể đáp xuống Mặt trăng như dự kiến do hỏng khoang chứa oxy. Chính chiếc Speedmaster của phi hành gia Jack Swigert đã được sử dụng để định lượng chính xác 14 giây tối quan trọng để khởi động tên lửa đẩy đưa phi hành đoàn quay về Trái đất an toàn [30][31][32]. Với chiến tích này, Omega đã được phi hành đoàn tàu Apollo 13 tặng Snoopy Award, vốn dành cho những đóng góp rất đặc biệt cho NASA [33]. Sự kiện này được chuyển tải trong thiết kế của một số mẫu Speedmaster rất được yêu mến sau này, trong đó có mẫu kỷ niệm 45 năm tàu Apollo 13 [34]. Chiếc Moonwatch của Jack Swigert sử dụng máy Cal. 861 lên cót tay [35].

Đáy của chiếc Speedmaster bản kỷ niệm 45 năm tàu Apollo 13 có khắc hình Snoopy Award. Ảnh: Youtube.

Cal. 861 được dùng cho các model Speedmaster Moonwatch từ khoảng 1968. Ảnh: Watchuseek Forums.

Apollo XVII – Bước chân cuối cùng của con người trên Mặt trăng

Apollo XVII ( dùng riêng số La Mã cho nhiệm vụ này – Nova ) là nhiệm vụ cuối cùng trong chương trình Apollo được thực thi [36][37]. Phi hành đoàn 3 người gồm Eugene Cernan, Ronald Evans và Harrison Schmitt cất cánh lúc 12 giờ 33 phút (đêm, giờ EST) ngày 7 tháng 12 năm 1972. Phi hành đoàn trở lại Trái đất sau đó 12 ngày, vào 19 tháng 7 năm 1972. Apollo XVII là chuyến bay cuối cùng đưa con người lên Mặt trăng và cũng là nhiệm vụ cuối cùng trong đó con người đi xa hơn Quỹ đạo tầm thấp của Trái đất (LEO – Low Earth Orbit [38]).

Bước chân trên Mặt trăng từ tàu Apollo XVII. Ảnh: NASA.

Xe thám hiểm Mặt trăng trong nhiệm vụ Apollo XVII. Ảnh: NASA.

Apollo XVII đã chụp nhiều bức ảnh nổi tiếng, trong đó có bức “Blue Marble” (Viên Đá xanh) chụp Trái đất từ Mặt trăng.

Bức ảnh “Blue Marble” chụp Trái đất từ Mặt trăng thực hiện trong nhiệm vụ Apollo XVII. Ảnh: NASA.

Apollo XVII nắm giữ một số kỷ lục đáng chú ý. Nó là nhiệm vụ có thời gian hạ cánh lâu nhất trên Mặt trăng, thời gian hoạt động bên ngoài tàu trong không gian dài nhất, thu thập lượng mẫu vật nhiều nhất và có thời gian bay trên quỹ đạo Mặt trăng lớn nhất. Đặc biệt, phi hành đoàn 3 người không có ai từng phi công lái thử (test pilot, chuyên lái các thiết bị bay mới chế tạo hoặc mới sửa chữa, một nghề nguy hiểm [39]).

Thuyền trưởng Cernan của tàu Apollo XVII. Ảnh: NASA.

Các phi hành gia trên tàu Apollo XVII cũng được trang bị mỗi người một chiếc Omega Speedmaster Moonwatch. Thêm vào đó, một chiếc khác được trang bị để Ronald Evans thực hiện Thí nghiệm Truyền nhiệt và Đối lưu (Heat Flow and Convection Experiment [30]). Chiếc Moonwatch thứ tư này được bán với giá 23,900USD vào năm 2009 [30][40]. Một nhà sưu tập đã mua chiếc Moonwatch này cùng chiếc dây dù đeo đồng hồ và chiếc bút ghi chép thí nghiệm với giá tổng cộng khoảng 39,000USD [41]. Năm 2015, bộ ba này được bán tại cuộc đấu giá của nhà Christie’s ở mức 245,000USD, gấp 6 lần giá mua năm 2009 [41]. Giống như với Apollo 11, loạt Moonwatch trang bị cho nhiệm vụ Apollo XVII sử dụng máy Cal.861 lên cót tay.

Bộ ba được bán đấu giá tại Christie’s năm 2015. Ảnh lấy từ collectspace.com.

Omega Speedmaster Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary

Để ghi nhớ 40 năm nhiệm vụ Apollo XVII cùng những bước chân cuối cùng của con người trên Mặt trăng, năm 2012, Omega phát hành chiếc đồng hồ Speedmaster Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary với số lượng giới hạn 1972 chiếc [42].

Chiếc Speedmaster Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary ref. 311.30.42.30.99.002. Ảnh: Omega.

Chiếc đồng hồ này có thiết kế “kiểu Speedmaster” điển hình, size 42, mặt kính nhô cao, vành Tachymetre màu đen và dùng máy cơ lên cót tay (thủ công) Cal.1861.

Máy cơ lên cót tay Cal.1861. Ảnh: Wikipedia.

Phần đáy của đồng hồ đóng kín, được khắc logo Speedmaster cùng hình Ngựa biển kèm theo dòng chữ “Last Man on the Moon, December 14, 1972″ và “Apollo XVII 40th Anniversary” cùng “Limited Edition” kèm theo số thứ tự của chiếc đồng hồ trong bộ sưu tập.

Mặt đáy của chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary.

Vài hình ảnh từ các góc nhìn khác nhau cho thấy DNA Speedmaster đậm đặc trên chiếc đồng hồ này (bấm mũi tên qua Trái – Phải để xem toàn bộ 4 ảnh trên slider).

This slideshow requires JavaScript.

Như những chiếc Speedmaster khác, độ fit của chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary này lên tay cũng rất tốt.

Lên tay thử độ fit của chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary.

Dù vẻ ngoài mang dáng dấp của một “di sản” đậm chất cổ điển, chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary khi lên tay cũng không mất đi vẻ mạnh mẽ, phong trần đặc trưng của dòng Speedmaster, vốn dành cho những người yêu thích tốc độ, khám phá, thể thao.

Vẻ phong trần, chiến trong nét cổ điển đậm tính “di sản” của chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary.

Kết tinh Độc đáo và Duy nhất của Kỹ thuật và Nghệ thuật

Điều gì thu hút ánh nhìn của bạn khi lần đầu thấy chiếc Moonwatch này? Với tôi, đó mặt đồng hồ ấn tượng được làm rất tỉ mỉ và sắc nét. Mặt đồng hồ được làm từ bạc 925 [42] hay bạc Sterling, một hợp kim có chứa 92.5% Bạc (Ag) và 7.5% kim loại khác, thường là Đồng (Cu) [43]. Đây cũng chất liệu được dùng để làm chiếc lapel pin (khuy cài trên ve áo) từ Snoopy Award [33]. Đây một sự ghi nhớ thú vị và cũng là sự lựa chọn chất liệu đúng đắn để thực hiện các kỹ thuật chạm khắc, trang trí sau này.

Lapel pin hình Snoopy từ Snoopy Award được làm bằng bạc 925. Ảnh: Wikipedia.

Mặt đồng hồ được trang trí bằng hình Huy hiệu (insignia) của nhiệm vụ Apollo XVII chạm nổi (emboss). Huy hiệu này cũng được gắn trên tay áo của các phi hành gia thực hiện nhiệm vụ cũng như được dùng để trang trí ở nhiều nơi khác, như là hoạ tiết trong các huy chương (ví dụ: Apollo 17 Flown Silver Robbins Medallion [44]).

Huy hiệu Apollo XVII. Ảnh: NASA.

Huy hiệu Apollo XVII được thiết kế bởi Robert McCall theo yêu cầu từ Cernan, chỉ huy tàu [45]. Khuôn mặt trong hình là thần Apollo – thần Mặt trời của người Hy Lạp. Khuôn mặt Apollo được lấy nguyên mẫu từ bức tượng đặt tại Vatican. Huy hiệu còn có hình của chú Đại bàng và vạch màu đỏ lấy từ quốc kỳ tượng trưng cho nước Mỹ. 3 ngôi sao trên Huy hiệu thể hiện 3 thành viên phi hành đoàn với tên được viết trên vành Huy hiệu. Mặt trăng được đặt phía sau cánh Đại bàng với ý nghĩa con người đã đến và chinh phục nơi đây. Đôi mắt Apollo hướng bay sang phải của đại bàng nhắm vào phần nền màu xanh sẫm, biểu thị không gian vũ trụ với Sao Thổ và đám tinh vân, thể hiện mong muốn khám phá vũ trụ của con người sẽ không chỉ dừng lại ở Mặt trăng mà sẽ hướng đến các hành tinh và các vì sao khác. Màu vàng trên Huy hiệu có ý nói về thời đại hoàng kim của kỷ nguyên du hành vũ trụ. Đó là mô tả chính thức của NASA về Huy hiệu Apollo XVII [45]. Tất nhiên, để đi đến thiết kế cuối cùng này, McCall đã thử và loại bỏ nhiều phương án thiết kế khác.

Các phương án thiết kế ban đầu cho Huy hiệu Apollo XVII của McCall. Ảnh chụp từ genedorr.com.

Chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary đã đưa hầu hết các chi tiết đại biểu cho Huy hiệu Apollo XVII vào mặt đồng hồ. Huy hiệu được thể hiện gần như nguyên vẹn trên nền màu đen – trắng. Với chất liệu Bạc 925, Omega đã có phương án tạo hình hoàn hảo để chạm nổi các hoạ tiết Huy hiệu. Bạc 925 cho phép tạo ra các hình in nổi một cách dễ dàng và đồng nhất trong khi vẫn duy trì được độ “cứng” cần thiết để giữ những đường nét chạm khắc trường tồn cùng thời gian.

Khi so sánh các hình ảnh từ nhiều mẫu Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary khác nhau, dù Omega không nêu thông tin, thể đoán định được rằng các hoạ tiết này được tạo hình bằng khuôn mẫu cực kỳ chính xác. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ vào các hình chụp cận cảnh trên mặt chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary mà chúng tôi có trong tay, có cảm giác Omega đã thêm những chỉnh sửa tế vi một cách thủ công khiến cho các hoạ tiết trở nên “có hồn” một cách kỳ lạ.

Những đường nét rất “có hồn” được chạm khắc trên mặt đồng hồ.

Để tạo màu xám cho nền đồng hồ và màu đen cho các phần cần bóng tối, một kỹ thuật thường đường sử dụng là sulfide hoá [46], tức là dùng một hợp chất chứa Lưu huỳnh (Sulfur) để nó kết hợp với Bạc tạo thành Sulfide Bạc (AgS) có màu đen. Hiện tượng tương tự xảy ra khi chúng ta dùng một chiếc nhẫn Bạc chà vào quả trứng luộc chẳng hạn. Mật độ AgS khác nhau sẽ cho các sắc thái màu từ xám nhạt đến đen sẫm. Một phương án khác có thể dùng là nhúng bạc vào hỗn hợp chứa acid Hydrochloric (HCl) và acid Telluric (H6O6Te) [47]. Tôi không chắc Omega có dùng hai kỹ thuật trên hay kỹ thuật nào khác nhưng rất đáng khen khi độ đậm nhạt được thể hiện đạt hiệu quả thẩm mỹ và có sự đồng nhất rất cao giữa các chiếc khác nhau trong cùng bộ sưu tập.

Màu đen trắng xen kẽ trên mặt chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary.

Một số chiếc Moonwatch được làm đáy lộ để phô trương movement tinh xảo nhằm tạo điểm nhấn cho đồng hồ. Chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary lại có điểm nhấn ở chính “bức tranh” được vẽ ở trên mặt. Cal.1861, dù rất đẹp, cũng phải ẩn đi để tránh bị so sánh với “bức tranh” này. Có thể dễ dàng nhận thấy các vạch chia trên subdial đo giờ (góc 6h) phút (góc 3h) được làm khá giản lược. Điều này khiến cho chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary khó có thể được đánh giá cao với tư cách một chiếc đồng hồ bấm giờ (chronograph) vì không dễ đọc thời gian đã đo đếm. Omega có lẽ muốn nhấn vào tính di sản của Apollo XVII khi “hy sinh” sự ưu việt của chức năng chronograph để dồn mọi tâm huyết và sự chú ý lên các hoạ tiết chạm khắc trên mặt đồng hồ. Dường như Omega muốn coi chiếc Moonwatch này như một bức tranh, một tác phẩm nghệ thuật hơn một thiết bị đếm giờ cơ khí. Chính điều này khiến nó trở nên đặc biệt và khác hẳn so với những chiếc Moonwatch kỷ niệm khác, chẳng hạn như những chiếc kỷ niệm Apollo 11 [48], 13 [49] hay chính chiếc Moonwatch kỷ niệm 45 năm Apollo XVII được phát hành năm nay [50].

Chiếc Moonwatch kỷ niệm 45 năm Apollo XVII. Ảnh: WatchBase.

Thay lời kết

Hình chụp góc nghiêng chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary. Ảnh: Novatime.

Từ câu chuyện về chiếc đồng hồ Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary, tôi đã cùng các bạn lần lại lịch sử khám phá Mặt trăng của con người từ thời Cổ đại, Trung đại cho đến ngày nay. Để hiểu được những thông điệp ẩn sau thiết kế của chiếc đồng hồ này, việc tìm hiểu lịch sử như chúng ta đã làm là điều cần thiết. Với ý nghĩa đó, Đồng hồ không chỉ là một thiết bị cơ khí khô khan để đeo trên tay mà nó còn mang trong mình bao câu chuyện và đóng vai trò chứng nhân cho rất nhiều cột mốc quan trọng với mỗi cá nhân cũng như với nhiều đất nước hoặc to lớn hơn, với cả loài người. Đó mới chính là ý nghĩa tối thượng sứ mệnh của những chiếc Đồng hồ.

Và trong dòng chảy ấy, chiếc Moonwatch Apollo XVII 40th Anniversary được làm ra với mục đích không chỉ đơn thuần sự ghi nhớ một chuyến bay. còn là sự tri ân dành cho những bước chân không mệt mỏi, cho lòng quả cảm, cho sự hy sinh, cho niềm khao khát chinh phục Mặt trăng và Vũ trụ bao la của nhân loại.

Nova @ Novatime Lab.

Bài viết được thực hiện trong chương trình report kỹ thuật của Novatime Lab (Watch Research). Nó có thể được cập nhật tiếp trong tương lai để chất lượng ngày một tốt hơn nữa.

Tham khảo

[1] Moon, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Moon

[2] Lunar Calendar, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Lunar_calendar

[3] Agricultural astrology, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Agricultural_astrology

[4] The Stellar and Lunar Keys to Medieval Muslim Agriculture,  Zohor Idrisi, URL: http://www.muslimheritage.com/article/stellar-and-lunar-keys-medieval-muslim-agriculture

[5] Some U.S. Farmers Insist on Planting by Phases of the Moon,  Karen Owen, URL: http://news.nationalgeographic.com/news/2001/06/0614_wireplanting.html

[6] Siderius Nuncius, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Sidereus_Nuncius

[7] Galileo Galilei, Drawings of the Moon, Galileo – Images of the Universe from Antiquity to the Telescope, URL: http://brunelleschi.imss.fi.it/galileopalazzostrozzi/object/GalileoGalileiDrawingsOfTheMoon.html

[8] Moon, The Galileo Project, URL: http://galileo.rice.edu/sci/observations/moon.html

[9] Proctor, Richard A. 1873. The moon : her motions, aspect, scenery, and physical condition. Facing page 230, Third quarter, Sept. 16, 1870, Linda Hall Library Digital Collections, URL: http://lhldigital.lindahall.org/cdm/ref/collection/astro_images/id/1796

[10] Escape velocity, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Escape_velocity

[11] Escape velocity, Hyperphysics, URL: http://hyperphysics.phy-astr.gsu.edu/hbase/vesc.html

[12] History of flight,  Walter James Boyne, Roger E. Bilstein, Tom D. Crouch, URL: https://www.britannica.com/technology/history-of-flight

[13] Wings – The Postwar Years (1945-1958), AllStar Education, URL: http://www.allstar.fiu.edu/aero/wings6.htm

[14] The Aerospace Industry Since World War II: A Brief History, The Jet Makers, URL: http://www.generalatomic.com/jetmakers/chapter2.html

[15] History of aviation, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_aviation

[16] Cold War History, A+E Networks, URL: http://www.history.com/topics/cold-war/cold-war-history

[17] Cold War, BBC UK, URL: http://www.bbc.co.uk/history/worldwars/coldwar

[18] The start of the Space Race, Khan Academy, URL: https://www.khanacademy.org/humanities/ap-us-history/period-8/apush-1950s-america/a/the-start-of-the-space-race

[19] Space Race, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Space_Race

[20] Declassified documents reveal Project Horizon: The Lunar Outpost of the US Army, Ancient Code, URL: https://www.ancient-code.com/declassified-documents-reveal-project-horizon-the-lunar-outpost-of-the-us-army

[21] LUNEX: Another Way to the Moon,  Amy Shira Teitel, URL: http://www.popsci.com/blog-network/vintage-space/lunex-another-way-moon

[22] NASA, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/NASA

[23] Ranger, NASA Science, URL: https://science.nasa.gov/missions/ranger

[24] Lunar Orbiter (1966 – 1967), NASA, URL: https://nssdc.gsfc.nasa.gov/planetary/lunar/lunarorb.html

[25] Surveyor (1966 – 1968),  NASA, URL: https://nssdc.gsfc.nasa.gov/planetary/lunar/surveyor.html

[26] The Apollo Program (1963 – 1972),  NASA, URL: https://nssdc.gsfc.nasa.gov/planetary/lunar/apollo.html

[27] Apollo program, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Apollo_program

[28] First Moon Landing Fast Facts,  CNN Library, URL: http://edition.cnn.com/2013/09/15/us/moon-landing-fast-facts/index.html

[29] The Apollo 1 tragedy (27 January 1967), NASA, URL: https://nssdc.gsfc.nasa.gov/planetary/lunar/apollo1info.html

[30] Omega Speedmaster, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Omega_Speedmaster

[31] 13 Things that Saved Apollo 13, Part 6: Navigating ny Earth’s Terminator,  Nancy Atkinson, URL: https://www.universetoday.com/62763/13-things-that-saved-apollo-13-part-6-navigating-by-earths-terminator

[32] The Omega Speedmaster’s 14 Seconds Of Fame,  Anthony DeMarco, URL: https://www.forbes.com/sites/anthonydemarco/2015/05/20/the-omega-speedmasters-14-seconds-of-fame

[33] Silver Snoopy Award, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Silver_Snoopy_award

[34] Omega Celebrates The Speedmaster And The 45th Anniversary Of Apollo 13, James Stacey, URL: http://www.ablogtowatch.com/omega-celebrates-speedmaster-45th-anniversary-apollo-13

[35] Omega Speedmaster Professional, the Watch that Saved Apollo 13,  Joseph Meehan, URL: https://huckberry.com/journal/posts/omega-speedmaster-professional-the-watch-that-saved-apollo-13

[36] Apollo 17, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Apollo_17

[37] Apollo 17, NASA, URL: https://www.nasa.gov/mission_pages/apollo/missions/apollo17.html

[38] Low Earth orbit, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Low_Earth_orbit

[39] Test pilot, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Test_pilot

[40] Apollo 17 Flown Omega Stainless Steel Speedmaster Professional Watch and Flown Metal Attachment Directly from the Personal Collection of Mission Command Module Pilot Ron Evans, Certified and Signed, Heritage Auction, URL: https://historical.ha.com/itm/explorers/space-exploration/apollo-17-flown-omega-stainless-steel-speedmaster-professional-watch-and-flown-metal-attachment-directly-from-the-personal-col-total-2-items-/a/6022-41028.s

[41] Christie’s sells flown-to-the-moon Omega Speedmaster watch for $245K, collectSPACE, URL: http://www.collectspace.com/news/news-121615a-christies-omega-speedmaster-auction.html

[42] Moon Watch Anniversary Limited Series, Omega Watches, URL: https://www.omegawatches.com/watches/speedmaster/moonwatch/anniversary-limited-series/31130423099002

[43] Sterling silver, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Sterling_silver

[44] Apollo 17 Flown Silver Robbins Medallion (File), Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/File:Apollo_17_Flown_Silver_Robbins_Medallion_(SN-F39).jpg#file

[45] Apollo 17, Space Mission Patches, URL: http://genedorr.com/patches/Apollo/Ap17.html

[46] How to Oxidize Sterling Silver like a Pro with 7 Simple Tricks!,  Gempacked Blog, URL: http://www.gempacked.com/blog/how-to-oxidize-sterling-silver-like-a-pro-with-7-simple-tricks-jewelry-design-hacks-tutorials

[47] Liver of Sulfur vs. Hydrochloric acid, Ganoksin Orchid – Jewelry Discussion, URL: https://orchid.ganoksin.com/t/liver-of-sulfur-vs-hydrochloric-acid/27446

[48] The Speedmaster Apollo 11 45th Anniversary Limited Edition, Omega Watches, URL: https://www.omegawatches.com/watches/speedmaster/moonwatch/apollo-11-45th-anniversary/product

[49] The 45th Anniversary of Apollo 13, Omega Watches, URL: https://www.omegawatches.com/watches/speedmaster/moonwatch/apollo-13-silver-snoopy-award/product

[50] Hands-On – Omega Speedmaster Apollo 17 45th Anniversary ‘Tribute to Gene Cernan’, Brice Goulard, URL: https://monochrome-watches.com/omega-speedmaster-apollo-17-45th-anniversary-tribute-gene-cernan-review-specs-price

Author: Tuan Tran (a.k.a Nova)

Dr. Tuan Tran (a.k.a Nova) tốt nghiệp các ngành Luyện kim, Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp từ các trường ĐH Bách Khoa Hà Nội (Việt Nam) và ĐH Dongguk (Hàn Quốc). Tác giả hiện đang làm Nghiên cứu và Kinh doanh tại Hà Nội và Seoul.

Tác giả từng làm việc trong các lĩnh vực: Cơ khí, Công nghiệp, Thiết kế, Phát triển sản phẩm.

Mảng đề tài nghiên cứu của tác giả là Thiết kế, Phát triển sản phẩm và Dịch vụ chuyên sâu cho các sản phẩm cao cấp và dịch vụ xã hội.

Với đam mê đặc biệt dành cho Lịch sử, Kỹ thuật và Đồng hồ, tác giả thành lập Novatime với mong muốn Novatime trở thành nơi tin cậy để đọc và tìm hiểu về Đồng hồ một cách toàn diện: Vật liệu, Cơ khí, Thiết kế, Cảm xúc, Lịch sử và những Con người.

Novatime cam kết tôn vinh những Giá trị của những chiếc Đồng hồ – những sáng tạo kiệt xuất của Nhân loại.

Click to comment

Viết comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Được xem nhiều

Lên đầu trang