Kỹ thuật
2.1K

Quartz: Từ kẻ gây sóng gió đến vai trò định hình công nghiệp đồng hồ hiện đại

Tissot Tradition Perpetual Calendar. Ảnh: Novatime.

Chiếc đồng hồ trên, tên gọi Tissot Tradition Perpetual Calendar , có thể tự động nhảy sang tháng Mười từ ngày 30, thay vì ngày 31 (như khi nhảy từ tháng Tám sang tháng Chín). Tương tự, ở các tháng khác, nó có thể tự động xác định ngày nào để chuyển ngày, kể cả trường hợp tháng Hai của năm nhuận.

Một chiếc đồng hồ với tính năng “vạn niên” [1], có thể hiển thị: giây, phút, giờ, ngày, thứ, tháng tự động điều chỉnh ngày như thế thông thường sẽ là rất đắt đỏ. Ví dụ, chiếc  IWC Portuguese Perpetual Calendar  [2] như hình bên dưới có giá đến 35,000 USD.

Bên cạnh chất liệu vỏ bằng vàng khối và design tinh xảo, sự đắt đỏ của chiếc  IWC Portuguese Perpetual Calendar chủ yếu do cỗ máy vô cùng phức tạp để thực thi tính năng “vạn niên”. Tất cả tính năng cầu kỳ nêu trên được thực hiện nhờ các bộ máy cơ khí tinh vi, được thiết kế tỉ mỉ và chính xác.

Phần đáy của chiếc IWC Portuguese Perpetual Calendar. Ảnh: IWC.

Kỹ thuật làm ra các đồng hồ vạn niên như chiếc IWC phía trên thuộc nhóm hàng đầu và được giới mộ điệu khao khát nhất. Điều đó lý giải tại sao dù rất đắt đỏ nhưng nhiều người luôn sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền lớn để sở hữu những siêu phẩm như vậy.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện tài chính dư dả. Tính năng vạn niên ràng là rất hữu dụng và nhiều người cần nó một cách thiết thực nhất. Nhưng số tiền vài chục nghìn USD là rào cản quá lớn. Và những chiếc đồng hồ như chiếc  Tissot Tradition Perpetual Calendar  được làm ra để đáp ứng những nhu cầu như thế. Đó một chiếc đồng hồ với tính năng phức tạp, thiết kế đẹp, hoàn thiện ở mức khá, mang thương hiệu Thụy sĩ lâu năm và mức giá rất êm ái: dưới 500USD! Mức giá này đủ để thu hút những người muốn dùng tính năng vạn niên nhưng không có đủ điều kiện tài chính để với tới những chiếc có giá vài chục nghìn USD, như chiếc IWC chẳng hạn.

Điểm mấu chốt khiến cho Tissot có thể làm ra mẫu đồng hồ có tính năng và mức giá hấp dẫn như vậy nằm công nghệ. Chiếc  Tissot Tradition Perpetual Calendar không dùng máy thuần cơ khí mà sử dụng một bộ máy điện tử (máy G15.261 của ETA [3], [4]), bao gồm các cuộn dây, mạch điện, vi xử một vài chi tiết cơ khí tối giản.

Máy G15.261 của ETA dùng trong đồng hồ Tissot Tradition Perpetual Calendar. Ảnh: ETA.

Công nghệ “điện tử” này giúp thực hiện các tính năng phức tạp một cách nhẹ nhàng, đơn giản và từ đó giúp giảm giá thành một cách ngoạn mục. Công nghệ tương tự như thế đang được sử dụng rất rộng rãi trong ngành đồng hồ hiện nay, được biết đến với tên gọi chính thức hơn là “Công nghệ Quartz”.

Ảnh tinh thể thạch anh (quartz) có thành phần hoá học tương tự như thuỷ tinh (SiO2). Nguồn: Wikipedia

Ảnh tinh thể thạch anh (quartz) có thành phần hoá học tương tự như thuỷ tinh (SiO2). Nguồn: Wikipedia

Một cách bản nhất, nếu như máy cơ khí (máy cơ) hoạt động trên nguyên tắc dây cót nhả ra làm quay các hệ bánh răng và quay kim đồng hồ thì máy quartz lấy nguồn năng lượng theo một cách hoàn toàn khác. Nguồn năng lượng để dịch chuyển các bánh răng trong đồng hồ quartz được lấy từ dao động của một tinh thể thạch anh (quartz). Dao động này sinh ra do tinh thể thạch anh được đặt trong một điện trường với nguồn điện được cấp từ pin. Đây là hiệu ứng áp điện, phát minh bởi Jacques và Pierre Curie vào năm 1880 [5].

Hình minh hoạ hiệu ứng áp điện. Ảnh: epson.com

Hình minh hoạ hiệu ứng áp điện. Ảnh: Epson.com

Nguyên lý hoạt động của đồng hồ cơ khí kiểu tự động. Ảnh: Tourneau.com

Nguyên lý hoạt động của đồng hồ quartz. Ảnh: Gray and Sons.

Về chi tiết nguyên lý hoạt động của máy quartz, thể xem bài biên dịch trên Novatime về máy đồng hồ [6] cũng như các bài tham khảo khác [7] [8]. Nhìn chung, máy quartz cấu tạo đơn giản, linh kiện ít hơn so với máy cơ khí. Mặc dù độ chính xác cao, sử dụng đơn giản và giá thành rẻ hơn máy cơ khí, máy quartz ít nhận được sự ưu ái từ giới sưu tầm đồng hồ vì chúng ít được đầu tư trau chuốt tinh xảo về mặt thẩm mỹ. Cũng có lẽ bởi vì chúng không có nhiều chi tiết để phô diễn.

Nhìn vào sự đơn giản tưởng như nhàm chán của máy quartz, bạn có thể tự hỏi liệu gì đáng nói về quartz hay về những cỗ máy này. Điều khiến cho quartz và máy quartz xứng đáng có một bài viết tổng luận? Tôi nghĩ rằng câu trả lời nằm ở lịch sử, ở cuộc cách mạng mà máy quartz đã gây ra những năm 1970, và cách mà máy quartz đã và đang định hình bức tranh của ngành công  nghiệp đồng hồ hiện nay.

Trong bài viết này, tôi sẽ cùng các bạn điểm lại cuộc cách mạng mà đồng hồ quartz đã gây ra cách đây gần nửa thế kỷ, về nguyên nhân sâu xa và các hệ quả mà mang lại, nhằm góp phần sáng tỏ nhiều điều đang bị hiểu sai hoặc chưa đầy đủ về dấu mốc quan trọng này. Cuộc cách mạng đó có tên là cuộc “Khủng hoảng Quartz” (Quartz crisis).

Ngành Đồng hồ Thụy sĩ bên bờ phá sản

Như đã nói qua trong bài viết về ETA [9], những năm 1970 chứng kiến cuộc khủng hoảng toàn diện của đồng hồ Thụy sĩ. Lượng xuất khẩu đồng hồ Thụy sĩ giảm từ 84 triệu đơn vị xuống còn 30 triệu đơn vị trong khoảng thời gian từ 1974-1983 [10]. Đây là một thảm họa. Hãy tưởng tượng bạn đang có khoảng 10 triệu đồng để tiêu hàng tháng và một thời gian sau, bạn phải làm quen với việc sống ở mức 3,5 triệu mỗi tháng. Cú sốc này khiến cho hàng loạt nhà sản xuất đồng hồ không thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường buộc phải đóng cửa. Một số khác buộc phải thu nhỏ quy mô hoặc tái cơ cấu, sáp nhập để có thể tồn tại qua cơn bão.

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm họa này sự chiếm lĩnh toàn diện thị trường của đồng hồ quartz, vốn có giá rẻ, so với đồng hồ cơ khí của Thụy sĩ. Những chiếc đồng hồ quartz ,với giá chỉ vài chục USD trong bối cảnh kinh tế khó khăn, là lựa chọn mới của đại đa số người dùng. Seiko dẫn đầu trong trào lưu thương mại hóa đồng hồ quartz với mẫu đồng hồ Quartz Astron vào năm 1969. Cuộc “Khủng hoảng Quartz” đã chính thức được châm ngòi từ thời điểm này và như phần tiếp theo sẽ chỉ ra, nó thúc đẩy sự thay đổi toàn diện của cả ngành đồng hồ Thụy và qua đó định hình lại bức tranh tổng thể của công nghiệp đồng hồ hiện đại.

Seiko Quartz Astron được giới thiệu năm 1969. Ảnh: Seiko Time Corp.

Đã có nhiều tài liệu viết về cuộc khủng hoảng này [11][12][13][14] và hẳn nhiều người cũng đã từng nghe ít nhiều về nó. Tuy nhiên, có nhiều sự kiện chưa được hiểu biết tường tận và Novatime muốn làm rõ trong bài viết này.

Lược sử công nghệ quartz và đồng hồ quartz

Sự kiện Seiko ra mắt mẫu đồng hồ quartz thương mại đầu tiên vào năm 1969 khiến nhiều người nghĩ rằng công nghệ đồng hồ quartz do người Nhật sáng tạo ra. Sự thực không phải như vậy. Lịch sử công nghệ quartz, ứng dụng quartz trong đo đếm thời gian và ngay cả trong công nghệ đồng hồ đeo tay rất phức tạp.

Ngược dòng lịch sử, năm 1880, Jacques và Pierre Curie phát minh ra hiệu ứng áp điện [5]. Khi đặt áp lực lên tinh thể thạch anh (quartz, công thức hóa học là SiO2), tinh thể này phát ra điện. Ngược lại, khi đặt tinh thể thạch anh dưới điện áp, tinh thể này dao động. Vì tính chất này, với một nguồn điện, tinh thể thạch anh có thể được dùng giống như bánh xe cân bằng (balance wheel) trong đồng hồ cơ khí. Năm 1927, Warren Marrison tại Bell Labs chế tạo ra một chiếc đồng hồ lớn dựa trên nguyên lý của hiệu ứng áp điện [5][15]. Chiếc đồng hồ này, sử dụng tinh thể thạch anh và các mạch điện, có độ chính xác cao hơn hẳn các đồng hồ cơ khí thời bấy giờ. Nhờ đó, nó trở thành dụng cụ thiết yếu để đo đếm thời gian trong các thí nghiệm. Đến những năm 1940, thiết bị do Marrison chế tạo ra đã trở thành tiêu chuẩn của các phòng lab. Tuy nhiên, công nghệ này còn quá thô sơ đắt đỏ để có thể được sử dụng trong các đồng hồ cỡ nhỏ trên quy mô đại chúng.

Chiếc đồng hồ được Marrison xây dựng tại Bell Labs vào năm 1927. Ảnh: beckchris.wordpress.com.

Marrison và phiên bản “nhỏ” hơn của đồng hồ quartz năm 1947. Ảnh: http://blog.ahsoc.org.

Phải chờ thêm nhiều tiến bộ công nghệ nữa để ứng dụng quartz trong đồng hồ đeo tay trở thành hiện thực [15]. Năm 1954, Hamilton phát triển đồng hồ Ventura chạy điện thông qua dự án đó, viên pin cho đồng hồ đầu tiên đã được làm ra. Năm 1959, Jack Kilby và Robert Noyce phát minh ra mạch tích hợp (Integrated circuit – IC), cho phép thiết kế các mạch điện nhỏ gọn có thể thực hiện các chức năng phức tạp. Những công nghệ này là tiền đề để thu nhỏ kích thước đồng hồ quartz.

Máy điện chạy pin của đồng hồ Ventura do Hamilton chế tạo. Ảnh: Monochrome Watches.

Người Nhật nhanh nhạy tiếp cận công nghệ làm đồng hồ quartz từ cuối những năm 1950. Vào năm 1958 [15], Seiko bắt đầu sản xuất được các đồng hồ dành cho đài phát thanh với kích thước lớn cỡ các tủ hồ sơ. Một năm sau đó, họ bắt đầu dự án “59A” với kết quả sau đó là chiếc đồng hồ chronometer dành cho ngành hàng hải ra đời năm 1963. Chiếc đồng hồ này đã được đem đi dự thi tại Đài thiên văn Neuchatel và trở thành đồng hồ quartz đầu tiên tham gia một cuộc thi về độ chính xác. Năm 1964, Seiko thương mại hóa sản phẩm này và nó được phát triển để dùng rộng rãi tại Olympic Tokyo 1964 cũng như được trang bị trên các tàu cao tốc ở Nhật.

Đồng hồ quartz của Seiko (size lớn) dùng cho Olympic Tokyo (Crystal chronometer Marathon timer). Ảnh: Seiko Museum.

Tuy vậy, người Thụy sĩ những người đầu tiên phát triển đồng hồ quartz đeo tay. Từ năm 1960, thừa hưởng những công nghệ mới phát minh, Max Hetzel giới thiệu bản mẫu (prototype) đầu tiên của chiếc đồng hồ quartz có tên là Accutron [16].

Bản prototype đầu tiên tên Accutron của Max Hetzel năm 1960. Ảnh: Fondation de la Haute Horlogerie.

Đến năm 1966 [5][16], bản prototype hoàn chỉnh hơn có tên Bêta 1, với dạng thức của đồng hồ đeo tay, đã được giới thiệu. Năm sau đó, chiếc đồng hồ quartz đeo tay thành phẩm có tên Bêta 21 được công bố lần đầu tại Thụy sĩ. Các mẫu đồng hồ của các hãng như IWC, Omega, Piaget, Rolex và cả Patek Philippe đã dùng cỗ máy Bêta 21 này [17].

Máy quartz Bêta 21 (B-21) được dùng cho nhiều model đồng hồ Thụy sĩ, điển hình là Omega Electroquartz 8192. Ảnh: Timezone.com.

Bóng ma Khủng hoảng quartz

Mặc dù vậy, Người Nhật, với sự nhạy bén của kẻ mới đến, đã nhìn ra tiềm năng to lớn của đồng hồ quartz đeo tay. Họ chính là những người tích cực nhất trong nỗ lực thương mại hóa các sản phẩm này với tầm nhìn thị trường chuẩn xác. Chiếc Seiko Quartz Astron ra đời là kết quả của những nỗ lực như vậy. Và cuộc Khủng hoảng Quartz chính thức được châm ngòi từ đây. Quả bom không nổ ngay kéo dài sự ảnh hưởng âm một thập kỉ sau đó, gây nên sự suy yếu toàn diện của ngành sản xuất đồng hồ Thụy sĩ.

Một nhân tố quan trọng thúc đẩy cuộc Khủng hoảng Quartz diễn ra là tình hình kinh tế vĩ mô trên phạm vi toàn cầu. Vấn đề này đã được Novatime đề cập trong bài viết về ETA [9]. Cuộc Khủng hoảng dầu mỏ 1973-1974 [18][19][20] đã gây nên suy thoái kinh tế toàn cầu và sức mua tiêu dùng suy giảm nghiêm trọng. Người ta không còn dư dả để chi trả cho những chiếc đồng hồ hàng trăm, hàng ngàn USD (theo giá thời đó) nữa. Sự ảm đạm của thị trường đã giáng một đòn chí mạng vào tình hình kinh doanh của các công ty đồng hồ Thụy sĩ vốn quen với phân khúc sản phẩm cao cấp và mức giá đắt đỏ. Năm 1976, Texas Instruments bán ra các đồng hồ quartz có giá khoảng 20USD. Chỉ vài năm sau, mức giá này đã trở nên “quá đắt” để cạnh tranh với các đồng hồ quartz có giá dưới 10USD! [15]

Trong khi ngành đồng hồ Thụy sĩ còn đang loay hoay chưa có phương án thay đổi danh mục sản phẩm thì “làn sóng” đồng hồ quartz giá rẻ từ Nhật mang đến nguy cơ nhấn chìm toàn bộ ngành công nghiệp có lịch sử hàng trăm năm của quốc gia này. Theo số liệu từ Swatch [21], số lượng việc làm trong ngành đồng hồ Thụy sĩ giảm từ 90,000 (lúc cao điểm) xuống còn 25,000 vào cuối những năm 1970. Có thể nói, cùng với đồng hồ quartz giá rẻ, cuộc Khủng hoảng dầu mỏ 1973-1974 đã đẩy ngành đồng hồ đến một bước ngoặt to lớn.

Sự hồi sinh của Đồng hồ Thụy sĩ

Những nỗ lực từ Bêta 21 [16] không đủ để đồng hồ Thụy cạnh tranh lại với làn sóng giá rẻ đến từ Nhật Bản. Dù trang bị máy quartz, giá thành của đồng hồ Thụy sĩ vẫn quá cao và xa tầm với. Để giành lại thị phần, trong hoàn cảnh thị trường mới, triết lý phát triển sản phẩm cần phải thay đổi tận gốc rễ. Và định mệnh đã mang đến Swatch Group với tư duy làm sản phẩm mới mẻ, định nghĩa lại giá trị của đồng hồ Thụy sĩ. Swatch Group [22], dưới sự lãnh đạo của Nicolas Hayek, đã đưa ra triết lý mới, phát triển những chiếc đồng hồ có thiết kế bắt mắt, phong cách đa dạng, máy móc đơn giản, đem lại sự hào hứng sưu tập cho người mua và có mức giá cực thấp cho một chiếc đồng hồ Thụy sĩ. 12 mẫu đồng hồ đầu tiên của Swatch đã ra mắt năm 1983 và, cùng với chiến dịch marketing táo bạo, chúng đã gần như ngay lập tức thu hút sự chú ý của công chúng trên phạm vi toàn cầu và tạo nên một cơn sốt mới [23]. Một số mẫu đồng hồ từ 1983 hiện vẫn được lưu trữ dữ liệu trên website của Swatch [24] và trở thành đối tượng săn lùng của giới sưu tầm.

Những mẫu đồng hồ quartz ra mắt năm 1983 của Swatch. Ảnh chụp màn hình website.

Những mẫu đồng hồ ra mắt năm 1983 với thành công nhanh chóng đã chứng minh sự đúng đắn của triết lý phát triển sản phẩm hướng tới người dùng. Swatch đã lắng nghe nhu cầu của họ, đo lường khả năng kinh tế của đại chúng khách hàng và đưa ra sản phẩm phù hợp. Khách hàng sẵn sàng bỏ ra vài chục USD để được sở hữu những chiếc đồng hồ chất lượng từ Thụy sĩ vốn trước đây được định vị ở tầm giá cao hơn rất nhiều. Họ vui vẻ với thiết kế mới và sự tối giản của máy móc, sự “bình dân” của vật liệu và thể mua vài chiếc để thay đổi. Đây là bước đà quan trọng để Swatch tái chiếm thị trường, tích lũy doanh số và nguồn tài chính cũng như sự tự tin để triển khai các dự án tiếp theo, với cùng một định hướng. Đồng hồ Thụy sĩ có dấu hiệu hồi sinh từ đó. Sau này, khi đã lớn mạnh, Swatch mua lại hàng loạt các hãng khác. Swatch tiến hành tái cơ cấu danh mục sản phẩm trên bình diện tập đoàn, hợp hóa các công đoạn sản xuất chuyên môn với ETA làm hạt nhân chuyên chế tạo máy, giảm giá thành sản xuất và nâng cao tính cạnh tranh cho đồng hồ Thụy sĩ, cả quartz và cơ khí. Những nỗ lực này và những quyết sách đúng đắn sau đó đã làm nên bức tranh của ngành Đồng hồ Thụy sĩ như chúng ta thấy hôm nay [10][11][12][13][14][15][21].

Thay lời kết

Trong bài viết này, Novatime đã giới thiệu đến quý độc giả các hình dung cơ bản về công nghệ quartz, đồng hồ quartz và những nét khác biệt cơ bản của nó với đồng hồ cơ. Bài viết cũng điểm qua lịch sử phát triển của đồng hồ quartz, sóng gió gây ra cho toàn bộ ngành sản xuất đồng hồ truyền thống vào những năm 1970. Sự phát triển liên tục mang tính chất đua tranh, bám đuổi của các hãng đồng hồ Thụy sĩ và Nhật trong công nghệ quartz và đồng hồ quartz những năm 1950-1960 cho thấy tính cạnh tranh khốc liệt của thị trường đồng hồ trước bước ngoặt lịch sử. Đồng hồ quartz vừa tác nhân gây khốn đốn cho ngành sản xuất đồng hồ Thụy sĩ nhưng nó cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới cho họ với sự tiên phong của Swatch.

Ngày nay, xét về số lượng và độ phổ biến thì đồng hồ quartz vượt xa đồng hồ cơ. Điều này dẫn đến việc cần phải một sự nhìn nhận xứng đáng hơn vai trò của đồng hồ quartz trong toàn ngành sản xuất đồng hồ. Việc nhìn vào chuỗi sự kiện lịch sử, con số thống kế cũng như phương pháp tiếp cận thông tin toàn diện giúp chúng ta hiểu rõ hơn nguyên nhân sâu xa cũng như bản chất của cuộc Khủng hoảng Quartz: Nó là cuộc chiến về phát triển sản phẩm hướng đến khách hàng. Khi yếu tố vĩ mô thay đổi, bản thân khách hàng cùng các điều kiện kinh tế, sở thích,…của họ cũng thay đổi và cần sự thay đổi tương ứng trong chiến lược sản phẩm. Người Nhật đã nhanh nhạy hơn trong sự thay đổi này suýt chút nữa đã xóa sổ ngành Đồng hồ Thụy sĩ. May mắn thay, lịch sử đã lựa chọn Swatch, với những quyết sách kịp thời cùng danh tiếng “Thụy sĩ” trăm năm, để làm ra cuộc hồi sinh ngoạn mục.

Trong bức tranh hiện tại của ngành đồng hồ, các đồng hồ quartz vẫn đóng vai trò lớn về tỷ lệ danh mục sản phẩm cũng như tỷ lệ doanh thu. Trong tình hình hiện nay, đồng hồ quartz một phần quan trọng trong chiến lược của rất nhiều hãng, đặc biệt là những hãng có lượng khách hàng đại chúng, đông đảo có ảnh hưởng lớn trong ngành.

Nova @ Novatime Lab.

Bài viết được thực hiện trong chương trình report kỹ thuật của Novatime Lab (Watch Research). Nó có thể được cập nhật tiếp trong tương lai để chất lượng ngày một tốt hơn nữa.

Tham khảo

[1] Perpetual Calendar, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Perpetual_calendar

[2] The IWC Portuguese Perpetual Calendar In White Gold With A Blue Dial, Benjamin Clymer, URL: https://www.hodinkee.com/articles/just-because-the-iwc-portuguese-perpetual-calendar-in-white-gold-with-a-blue-dial

[3] Tissot Tradition Perpetual Calendar | T063.637.16.037.00, Tissot, URL: https://www.tissotwatches.com/en-en/shop/tissot-tradition-perpetual-calendar.html

[4] ETA G15.261, ETA SA, URL: http://www.eta.ch/en/our-products/quartz-movements/fashionline/eta-fashionline-g15261

[5] Piezoelectricity, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Piezoelectricity

[6] Một số Khái niệm cơ bản về Máy đồng hồ, SmaQues, URL: https://www.novatime.vn/2017/01/mot-so-khai-niem-co-ban-ve-may-dong-ho

[7] Quartz, Manual or Automatic? Choosing the Right Watch Movement for You,  Christina Tsirkas, URL: https://www.grayandsons.com/blog/quartz-manual-or-automatic-choosing-the-right-watch-movement-for-you

[8] Watch Movements, Tourneau, URL: http://www.tourneau.com/watch-education/watch-movements.html

[9] ETA – Sự “bình thường” vĩ đại, Nova @ Novatime, URL: https://www.novatime.vn/2017/09/eta-nha-kien-thiet-vi-dai

[10] The Little Engine That Could – and Did: A History of ETA,  Ed Estlow, URL: http://wornandwound.com/the-little-engine-that-could-and-did-a-history-of-eta

[11] Quartz Crisis,  Wikipedia, URL:https://en.wikipedia.org/wiki/Quartz_crisis

[12] The Quartz Crisis – an event that could have wiped out the mechanical watch industry,  Hora Halus, URL: https://horahalus.com/2016/05/22/watch-lore-the-quartz-crisis

[13] The Quartz Crisis Explained,  Smith Bradley Ltd., URL: https://www.smithbradleyltd.com/blogs/blog/7971071-the-quartz-crisis-explained

[14] The Quartz Watch Revolution,  Calibre11, URL: https://www.calibre11.com/heuer-quartz-revolution

[15] Quartz Watch, Engineering and Technology History Wiki, URL: http://ethw.org/Quartz_Watch

[16] History of Watchmaking, Fondation de la Haute Horlogerie, https://www.hautehorlogerie.org/en/encyclopaedia/history-of-watchmaking

[17] Collecting The First Swiss Quartz Movement: 5 Beta-21 Watches To Look For, Cara Barrett, URL: https://www.hodinkee.com/articles/the-beta-21

[18] 1974: “Long queues and fights at garages”,  BBC UK Witness, URL: http://news.bbc.co.uk/onthisday/hi/witness/december/15/newsid_4065000/4065969.stm

[19] Oil Shock of 1973–74,  Michael Corbett, URL: https://www.federalreservehistory.org/essays/oil_shock_of_1973_74

[20] Background: What caused the 1970s oil price shock?,  Terry Macalister, URL: https://www.theguardian.com/environment/2011/mar/03/1970s-oil-price-shock

[21] The amazing adventures of the ‘SECOND WATCH’, History @ Swatch Group, URL: https://www.swatch.com/en/explore/history

[22] The Swatch Group,  Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/The_Swatch_Group

[23] Swatch, Wikipedia, URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Swatch

[24] Watches from 1983, Swatch International, URL: https://www.swatch.com/en/watches/?timeperiod=1983%3B1983

Author: Tuan Tran (a.k.a Nova)

Dr. Tuan Tran (a.k.a Nova) tốt nghiệp các ngành Luyện kim, Kỹ thuật Hệ thống Công nghiệp từ các trường ĐH Bách Khoa Hà Nội (Việt Nam) và ĐH Dongguk (Hàn Quốc). Tác giả hiện đang làm Nghiên cứu và Kinh doanh tại Hà Nội và Seoul.

Tác giả từng làm việc trong các lĩnh vực: Cơ khí, Công nghiệp, Thiết kế, Phát triển sản phẩm.

Mảng đề tài nghiên cứu của tác giả là Thiết kế, Phát triển sản phẩm và Dịch vụ chuyên sâu cho các sản phẩm cao cấp và dịch vụ xã hội.

Với đam mê đặc biệt dành cho Lịch sử, Kỹ thuật và Đồng hồ, tác giả thành lập Novatime với mong muốn Novatime trở thành nơi tin cậy để đọc và tìm hiểu về Đồng hồ một cách toàn diện: Vật liệu, Cơ khí, Thiết kế, Cảm xúc, Lịch sử và những Con người.

Novatime cam kết tôn vinh những Giá trị của những chiếc Đồng hồ – những sáng tạo kiệt xuất của Nhân loại.

Click to comment

Viết comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Được xem nhiều

Lên đầu trang